Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Nhã ngữ - những ứng xử văn hóa

Khái niệm về nhã ngữ, từ góc độ ngôn ngữ học, ngữ dụng học. Khảo sát nhã ngữ trong tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Anh.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/56366

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Lý Thường Kiệt: lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý



Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý là một trong những trước tác quan trọng nhất của học giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996). Cuốn sách cung cấp cho bạn đọc các phần nội dung: võ công của Lý Thường Kiệt trong công cuộc bình Chiêm, phá Tống cũng như công lao to lớn của ông đối với Phật giáo. Qua những khảo cứu văn bia, cổ sử (Việt Nam, Trung Quốc); qua 15 chương sách học giả Hoàng Xuân Hãn đã vẽ lại chân dung và công trạng của Lý Thường Kiệt khá rõ nét: gốc tích; vào cấm đình; thành hoạn quan; kinh phỏng vùng Thanh Hóa, Nghệ An để dẹp loạn và làm yên dân; đánh Chiêm Thành ở trận Nhật Lệ, trận Tu Mao mà ông là đại tướng quân tiên phong; cầm quyền bính (1072, Lý Thánh Tông mất); bang giao Lý – Tống; đánh vào sâu trong đất Tống rồi rút quân trở về phòng thủ ở Nam thùy; kháng cự cuộc tiến công của đại quân Tống, buộc Tống phải lui quân; điều đình với Tống đòi đất đã mất; ra coi đất Thanh Hóa, trị vì yên dân, có công với đạo Phật; về kinh; đi đánh Chiêm lần nữa; qua đời năm Ất Dậu (1105), thọ 86 tuổi (bia Nhữ Bá Sĩ chép 87).
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/21980

Tiếp cận đa chiều về quản lí hoạt động đào tạo ở Đại học Quốc gia Hà Nội

Theo tiếp cận đa chiều về đảm bảo chất lượng giáo dục, bài báo này khảo sát, đánh giá công tác quản lí đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội một cách toàn diện (đa tham số) và khách quan (đa phương pháp, đa nguồn). Trong đó, đánh giá của cán bộ được thực hiện qua 8 nhân tố với 48 tiêu chí bao gồm: mục tiêu và kế hoạch đào tạo; quản lí (QL) chương trình đào tạo; tuyển sinh; tổ chức thực hiện đào tạo; QL hoạt động giảng dạy của giảng viên; QL hoạt động học tập của sinh viên; QL đội ngũ cán bộ quản lí, nhân viên hỗ trợ hoạt động đào tạo; QLmôi trường học tập, cơ sở vật chất và trang thiết bị. Đánh giá của sinh viên được thể hiện qua 4 nhân tố: nội dung chương trình đào tạo; hoạt động giảng dạy; hoạt động đào tạo; môi trường, cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập. Các kết quả nghiên cứu đã được củng cố, khẳng định qua so sánh với kết quả đánh giá kiểm định điều kiện đảm bảo chất lượng của các chuyên gia mạng lưới các đại học ASEAN. Tám khuyến nghị được đưa ra để tăng cường điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo.

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

Những tiền đề văn hóa xã hội của Du ký Việt Nam hiện đại

Văn hóa xã hội Việt Nam có sự thay đổi mạnh mẽ do quá trình tiếp xúc Đông Tây. Sự tiếp xúc này tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của nước ta, thay đổi quan niệm và nhận thức của người Việt về nhiều lĩnh vực. Việc xuất hiện chữ quốc ngữ là một trong những điều kiện đa chiều cho sự phát triển của văn học nói chung, văn du ký nói riêng, thậm chí cả sự “phát triển” của người viết và người đọc cũng tăng lên đáng kể. Về văn hóa, do ảnh hưởng của quan niệm về con người cá nhân của Tây phương, trong văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX hình thành một cảm hứng lãng mạn khẳng định con người cá nhân, cảm hứng ra đi, tách khỏi không gian cộng đồng, xê dịch, giang hồ. Một số yếu tố khác là điều kiện đủ đóng vai trò quan trọng cho việc đi và viết là các phương tiện hỗ trợ như: đường giao thông phát triển, phương tiện giao thông thuận tiện, việc in ấn, xuất bản nhanh chóng kịp thời…

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư ở Việt Nam : Luận án TS. Kinh tế: 62 31 01 01


Luận án đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh để đánh giá tình hình phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư ở Việt Nam trên các khía cạnh: (i) Đánh giá về các nhân tố ảnh  hưởng đến hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đối với khu vực dân cư ở Việt Nam (ii) Đánh giá được tình hình phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư theo lát cắt của hai nhóm phương tiện thanh toán điển hình là: Thanh toán thẻ và Thanh toán điện tử.


http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/43595

Thứ Ba, 29 tháng 8, 2017

Sự hài lòng về cuộc sống của người Việt Nam hiện nay xét trên góc độ nghề nghiệp, việc làm và mức sống

Đo lường mức độ hài lòng là sự đo lường khá chủ quan nhưng lại là một phép đo hữu ích, cung cấp những đánh giá mang tính cá nhân về các khía cạnh cơ bản của cuộc sống. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về sự hài lòng trong cuộc sống, ở mỗi nghiên cứu, sự hài lòng có thể được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau và đo bằng những thang đo khác nhau. Dưới góc độ xã hội học, quá trình xã hội hóa, môi trường văn hóa và các đặc trưng nhân khẩu của cá nhân sẽ là những yếu tố mang tính quyết định đem lại cho cá nhân hệ thống tiêu chuẩn để tự đánh giá và rút ra mức độ hài lòng với cuộc sống. Bài viết này phân tích sự hài lòng về cuộc sống đối với 2 khía cạnh là việc làm và mức sống, dựa trên số liệu thuộc đề án “Sự hài lòng về cuộc sống” của ĐHQG HN 2011. Dữ liệu thu được cho thấy thái độ chủ quan về mức sống cùng và nghề nghiệp của người Việt Nam hiện nay được đánh giá ở mức “tương đối hài lòng”, với khá ít những đánh giá tiêu cực.

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

Không gian văn hoá Tây Đô (Một số biến đổi từ sau khi trở thành Tây Đô)

Tây Đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) lả vùng đất có vị thế đặc biệt quan trọng xét cả về góc độ địa- chính trị và địa-quân sự. Đây là nơi chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng có kiến tạo địa chất phức tạp, đan xen các dạng địa hình đồng bằng, vùng đồi và núi đá. Từ xa xưa Tây Đô là địa bàn sinh tụ của nhiều dân tộc khác nhau. Đặc điểm phong phú về điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái, đa dạng vé cư dân đã có tác động không nhỏ đến phương thức sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và tạo nên những đặc trưng văn hóa cộng đồng của cư dân vùng đất Tây Đô.


Thứ Ba, 22 tháng 8, 2017

Đặc điểm sức hút dính của một số loại đất bờ Sông Hồng khu vực Hà Nội

Sức hút dính là tính chất đặc trưng cho tính chất không bão hòa của đất và là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến ổn định bờ sông, đặc biệt trong điều kiện thay đổi của đới thủy động lực và nước ngầm khu vực bờ sông. Mục tiêu của bài báo nhằm nghiên cứu đặc điểm sức hút dính, ảnh hưởng của thành phần độ hạt và dung trọng đến sức hút dính cho một số loại đất bờ Sông Hồng khu vực Hà Nội. Kết quả thí nghiệm cho thấy sức hút dính chịu ảnh hưởng rất lớn bởi thành phần độ hạt và dung trọng của đất. Giá trị sức hút dính tại điểm khí bắt đầu xâm nhập vào mẫu (air-entry value, AEV) và sức hút dính tại điểm đất gần khô hoàn toàn (residual suction value, RSV) có xu hướng giảm rõ giữa các nhóm đất khác nhau, từ nhóm đất sét đến nhóm cát khi hàm lượng sét giảm, hàm lượng bột và cát trong đất tăng. Với cùng dung trọng bằng 15,0 kN/m3, giá trị AEV giảm từ 50 kPa đến 9 kPa, giá trị RSV giảm từ 600 đến 25 kPa khi hàm lượng hạt mịn trong đất giảm dần. Giá trị AEV và RSV có giá trị cao hơn khi dung trọng đất cao hơn. Với dung trọng là 13,5 kN/m3; 15,0 kN/m3; và 16,5 kN/m3, giá trị lớn nhất của AEV lần lượt là 25kPa, 50 kPa và 60 kPa; của RSV là 120 kPa, 600 kPa và 900 kPa.

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

Nguyễn Ái Quốc với việc lựa chọn con đường cách mạng và sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam - một số đặc điểm chủ yếu


Thông qua tư liệu lịch sử, bài viết phân tích một số đặc điểm chủ yếu trọng quá trình Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng và sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX. Từ đó,góp phần làm rõ cơ sở hình thành con đường cách mạng Hồ Chí Minh: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Công ty Xuyên quốc gia - chủ thể quan hệ quốc tế



Để tìm hiểu vai trò của chủ thể QHQT của công ty xuyên quốc gia, bài viết xem xét quá trình hình thành và phát triển của chúng kể từ thời cận đại cho đến nay. Một quá trình phát triển như vậy có thể giúp thấy được xu hướng tăng cường vai trò của chúng trong QHQT thế giới.Bài viết cũng tìm hiểu những đặc điểm của công ty xuyên quốc gia như tính cá nhân, tính quốc tế, mức độ thể chế, quan hệ với quốc gia... Đó là những yếu tố không chỉ góp phần quy định vai trò chủ thể QHQT mà còn tạo nên những đặc thù riêng trong tác động của chúng tới nền kinh tế chính trị quốc tế. Cuối cùng bài viết đánh giá về vai trò chủ thể QHQT với loại hình đặc biệt là chủ thể phi quốc gia. Việc đánh giá này được xem xét lần lượt trên bốn tiêu chí là tham gia, mục đích, năng lực và ảnh hưởng.

Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

Tìm hiểu thêm về vai trò của Mặt trận Việt Minh trong Cách mạng tháng Tám



Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về Mặt trận Việt Minh, nhưng hầu như chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu sâu về mô hình tổ chức và hình thái phát triển lực lượng của Việt Minh. Trong phần đầu của bài viết này tác giả tập trung khám phá những nét đặc sắc trong mô hình tổ chức của Việt Minh. Tác giả chỉ ra rằng mô hình đó là một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh ngay từ khi Người đến phía Nam Trung Quốc bắt tay vào việc xây dựng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Việc tổ chức ra Mặt trận Việt Minh vào tháng 5 năm 1941 chính là sự tái sinh của mô hình tổ chức đó trên một tầm cao mới và với sứ mệnh mới. Nhờ đó, Việt Minh đã phát triển nhanh chóng và trở thành lực lượng cách mạng mạnh nhất ở Việt Nam và cuối cùng đã giành được chính quyền. Trong phần tiếp theo, tác giả phân tích và làm rõ một số đặc điểm trong hình thái phát triển lực lượng của Việt Minh ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, chỉ ra sự khác biệt có tính chất vùng miền trong sự phát triển của Việt Minh ở hai giai đoạn trước và sau ngày 9 tháng 3 năm 1945. Chính những đặc điểm này quy định sự khác nhau trong hình thái giành chính quyền của Việt Minh ở ba kỳ trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945.

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

Đề tài chiến tranh cách mạng trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

Trong văn học Việt Nam từ 1945 đến nay, mặc dù chưa ai thống kê được chính xác có bao nhiêu tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng nhưng có một điều chắc chắn, đó là nguồn cảm hứng sáng tạo lớn của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ. Những tính cách cao đẹp xuất hiện trong chiến tranh không những không mất đi mà còn thể hiện ở nhiều khía cạnh trong nhiều bài văn, bài thơ có sức hấp dẫn lớn. Một loạt những nhà văn, nhà thơ trưởng thành từ sau chiến tranh, đã thực sự chiếm lĩnh được sự tin cậy của độc giả. Đề tài chiến tranh luôn được phản ánh tinh tế với nhiều khía cạnh sâu sắc...


Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Cơ sở của việc dạy học cho người khiếm thính bằng ngôn ngữ kí hiệu

Do khả năng nghe bị suy giảm nên khả năng giao tiếp bằng lời ở cộng đồng người khiếm thính bị hạn chế rất nhiều. Hiện nay, trên cả nước, có nhiều trung tâm giáo dục người khiếm thính. Những điểm khác biệt trong ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu và tiếng Việt chứng tỏ ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam là một ngôn ngữ đích thực, độc lập với tiếng Việt. Lựa chọn ngôn ngữ kí hiệu trong dạy học, không những có cơ sở khoa học từ bản chất của ngôn ngữ kí hiệu, mà nó còn thể hiện bản chất khoa học của hoạt động dạy học là lấy người học làm trung tâm. Bài báo này đưa ra dẫn liệu khoa học cho việc lựa chọn ngôn ngữ kí hiệu để dạy cho người khiếm thính.

Thứ Hai, 31 tháng 7, 2017

Suy ngẫm về chữ "Ngã" trong Phật giáo



"Vô Ngã" là vấn đề tương đối hơi khó và khiến cho nhiều người nghiên cứu về Đạo Phật phải tốn nhiều công sức để truy cứutìm hiểu. Nhưng Vô Ngã lại là vấn đề quan trọng trong giáo lý của Đạo Phật. Tại sao Đạo Phật lại chủ trương "Vô Ngã"?
Nếu nói Đức Phật chủ trương "Vô ngã" thì quả thật tội nghiệp cho Đức Phật không biết là ngần nào! Đã nhiều lần trong các Kinh điển Đức Phật thường nhắc đến "các Đức Phật trong ba đời cũng đều hộ trì như vậy". Đức Phật nói điều đó là muốn cho chúng sinh biết rằng con đường tiến đến quả vị Phật là con đường tự nhiên và tất yếu phải đi qua những giai đoạn như thế. Con đường tu và giác ngộ nó không khác trên căn bản, nhưng tùy theo tâm tính, cơ thể "bẩm sinh" mà mỗi con người thực hành một cách có khác, cho nên mỗi con người, mỗi chúng sinh gần như có mỗi một pháp môn khác nhau.

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

Đoàn kết dân tộc Việt Nam hiện nay : Luận văn ThS. Triết học:

Trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đoàn kết các dân tộc và những nội dung cơ bản trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đoàn kết các dân tộc. Khái quát kết quả việc thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc ở nước ta trong thời gian qua. Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả chính sách đoàn kết các dân tộc ở nước ta hiện nay.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/36360

Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

Chính sách pháp luật vì sự phát triển bền vững

Từ việc nghiên cứu chính sách pháp luật về sự phát triển bền vững, tác giả đã làm sáng tỏ sự cần thiết của việc bảo đảm sự ổn định của các lợi ích xã hội, mối quan hệ giữa phát triển bền vững và đồng thuận xã hội, trong đó nhấn mạnh vấn đề bảo vệ quyền con người, cũng như vai trò của Nhà nước pháp quyền và các điều kiện kinh tế - xã hội của đồng thuận xã hội.

Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

Tìm hiểu về con đường xuất gia của những người nghèo khổ trong xã hội Ấn Độ ngày xưa


Trong xã hội Ấn Độ ngày xưa vấn đề giai cấp xã hội luôn luôn là tiêu chí để đánh giá nhân cách con người. Trong số các tầng lớp người thuộc dưới đáy xã hội thì những người Narti là một bộ phận dân cư luôn phải chịu mọi đắng cay, đói khát và bị chà đạp. Họ là nô tì trong gia đình giàu có hoặc lao động cật lực ngoài đồng ruộng hay làm các công việc lao khổ. Dường như mọi niềm tin và hy vọng của họ đã bị bóng đêm trần thế che lấp, thân phận của họ qua cõi hồng trần dường như để trả một món nợ oan nghiệp.

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/54593

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

GIỮA NGÃ BA ĐƯỜNG: LIỆU ASEAN CÓ PHẢI LÀ LỰA CHỌN CHO VIỆT NAM TRONG TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG

Mục đích chính của bải viêt trả lời cho câu hỏ có phải ASEAN sẽ là lựa chọn của Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh phức tạp về lợi ích ở Biển Đông hiện nay, chủ yếu là giữa ba chủ thể chính là Trung Quốc, Mỹ và ASEAN. Bài viết gồm 3 phần, trong đó phần một phân tích cạnh tranh quân sự Mỹ-Trung. Phần hai trình bày những cơ chế chính trong giải quyết xung đột của ASEAN. Phần ba phân tích thực tiễn giải quyết xung đột giữa các quốc gia của Hiệp hội. Phần bốn phân tíc gợi ý chính sách cho Việt Nam. Bài viết kết luận mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng ASEAN là lựa chọn tốt nhất của Vệt Nam trong xung đột ở biển đông hiện nay.

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời cận đại : Luận văn ThS. Luật

Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật cùng với Hiến pháp, các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương đã được xây dựng và ban hành trên cơ sở các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992.


Thứ Năm, 29 tháng 6, 2017

Tư tưởng Nho giáo của Hồ Quý Ly: Đạo đức công phu hay chính trị thực hành

Trên cơ sở trình bày những ghi chép ít ỏi còn lại về tư tưởng và học thuật của Hồ Quý Ly, phân tích những đánh giá của các nhà Nho cũng như của các học giả hiện đại về ông, trong bài viết này, tác giả đã luận giải để góp phần làm rõ thêm tư tưởng Nho giáo của Hồ Quý Ly. Theo tác giả, động cơ của Hồ Quý Ly khi thảo luận về Nho giáo mang sắc thái chính trị trực tiếp và đậm nét. Việc Hồ Quý Ly phê phán Tống Nho xuất phát từ nhu cầu đem tư tưởng hậu thuẫn cho hoạt động chính trị và cải cách. Điều đó khẳng định tinh thần trọng thực tiễn, trọng hoạt động kinh tế hơn công phu tu dưỡng đạo đức của ông.

Phát triển du lịch văn hóa tại các làng cổ Bắc Bộ ( Nghiên cứu làng cổ Đường Lâm, làng cổ Bát Tràng)

Đề tài khoa học này giới thiệu các giá trị vật chất và giá trị tinh thần của các làng cổ Bắc Bộ cũng như các tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa. Bên cạnh đó, đề tài cũng phân tích thực trạng hoạt động du lịch và đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động du lịch tại các làng cổ Bát Tràng và làng cổ Đường Lâm.

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/35217

Thứ Ba, 27 tháng 6, 2017

Niệm Phật ta có được gì?

Không phải tất cả hành giả niệm Phật đều có chí nguyện vãng sanh. Có một số người niệm Phật cầu vãng sanh, nhưng một số khác lại niệm Phật cầu phước báo, niệm Phật để cho tâm bình an, niệm Phật để thiết lập chánh niệm...

"Thầy dạy con nên thường niệm:
Nam mô A Di Đà Phật!
Khi niệm con phải nhất tâm
Cho đời thoát cơn mê lầm
Lòng thành con luôn thường niệm
Nam mô A Di Đà Phật!
Dù trong lúc đang làm gì
Nam mô A Di Đà Phật!
Lời thầy ghi nhớ trong đời
Niệm Phật cho ta thảnh thơi
Niệm Phật thân tâm rạng ngời
Niêm Phật ta có được gì
Niệm Phật cho ta lối đi
Niệm Phật tâm thêm từ bi…".


Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

Lý thuyết phân quyền: Giá trị tham khảo trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay : Luận án TS. Khoa học chính trị

        Hệ thống hóa các nội dung cơ bản của lý thuyết phân quyền và xác định những giá trị lý luận, thực tiễn của lý thuyết phân quyền trong thực tiễn chính trị nhân loại.
         Đề xuất một số giải pháp trên cơ sở tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta hiện nay.

Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2017

Quan hệ thầy trò theo tinh thần kinh kế thừa chính pháp

Thầy, vầng mây bậc, thong dong, núi cao biển rộng
Con, cánh nhạn chiều, chân trời sải cánh, dõi theo Thầy, hóa hiện đường mây.
Quan hệ Thầy và Trò, đó là mối quan hệ thiêng liêng và cao cả; là hình ảnh sáng ngời, tuyệt vời giữa càn khôn sinh diệt. Không thể có một tác nhân nào, một điều kiện gì có thể chia cắt, hay tách biệt mối quan hệ ấy. Xưa cũng như nay, tình cảm cao quý này luôn luôn được tôn kính, được trân trọng, giữ gìn. Cho nên, Cổ đức có dạy: “Tôn Sư trọng Đạo” là vì vậy.
Quan hệ này, nói ra rất rộng, nó có mặt khắp mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ đời sống vật chất cho đến đời sống tinh thần.



Thứ Tư, 21 tháng 6, 2017

Hoạt động xúc tiến dịch vụ bổ sung của các khách sạn Sofitel thuộc tập đoàn Accor tại Hà Nội

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/35180Kết quả hình ảnh cho Hoạt động xúc tiến dịch vụ bổ sung của các khách sạn Sofitel thuộc tập đoàn Accor tại Hà Nội

Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Hà Nội

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/35179Kết quả hình ảnh cho Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Hà Nội

Phát triển mạng lưới chi nhánh của Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam trên địa bàn Tây Nguyên

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/44035Kết quả hình ảnh cho exim bank

Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á chi nhánh Thanh Hóa

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/44025Kết quả hình ảnh cho Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á chi nhánh Thanh Hóa

Huy động vốn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Đà Lạt

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/44026Kết quả hình ảnh cho Huy động vốn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Đà Lạt

Quản lí tài chính tại ngân hàng nhà nước Việt Nam

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/43588Kết quả hình ảnh cho Quản lý tài chính tại ngân hàng nhà nước Việt Nam

Năng lực cạnh tranh của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/43906Kết quả hình ảnh cho Năng lực cạnh tranh của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Đông Hà Nội

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/43885Kết quả hình ảnh cho Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Đông Hà Nộ


Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định 1932-1945 : Luận án TS. Văn học

Khái quát sự hình thành nhóm thơ Bình Định từ những tiền đề lịch sử xã hội, văn hoá và mỹ học đầu thế kỷ XX dẫn đến sự xuất hiện nhóm thơ Bình Định; quá trình hình thành và phát triển của nhóm thơ Bình Định dẫn đến sự nảy sinh Trường thơ Loạn"


Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

Logic học Phật giáo

Logic học Phật giáo (còn có tên gọi theo âm Hán - Việt là Nhân minh học Phật giáo, 因明學佛教) là một nội dung lớn trong hệ thống triết học Phật giáo. Logic học Phật giáo vừa có sự phát triển nội tại do nhu cầu truyền giáo có phương pháp, vừa có sự kế thừa những phương pháp lập luận sẵn có của Ấn Độ cổ đại. Những phương pháp lập luận ấy vốn là tinh hoa của triết học Ấn Độ, đến Phật giáo nó lại được "chưng cất" một lần nữa để rồi có sức lan tỏa khắp lục địa châu Á. Logic học Phật giáo cũng là một trong những phương pháp tư duy logic của người phương Đông.



http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/53909

Thứ Hai, 12 tháng 6, 2017

Curriculum development in language teaching

Agendas for Second Language Literacy by Sandra Lee McKay Reflective Teaching in Second Language Classrooms by Jack C. Richards and Charles Lockhart Educating Second Language Children: The whole child, the whole curriculum, the whole community edited by Fred Genesee Understanding Communication in Second Language Classrooms by Karen E. Johnson The Self-directed Teacher: Managing the learning process by David Nunan and Clarice Lamb Functional English Grammar: An introduction for second language teachers by Graham Lock Teachers as Course Developers edited by Kathleen Graves Classroom-based Evaluation in Second Language Education by Fred Genesee and John A. Upshur From Reader to Reading Teacher: Issues and strategies for second language classrooms by Jo Ann Aebers old and Mary Lee Field Extensive Reading in the Second Language Classroom by Richard R. Day and Julian Bamford Language Teaching Awareness: A guide to exploring beliefs and practices by Jerry G. Gebhard and Robert Oprandy Vocabulary in Language Teaching by Norbert Schmitt Curriculum Development in Language Teaching by Jack C. Richards

Buông bỏ tất cả để làm gì?




Thứ Năm, 8 tháng 6, 2017

Thơ đã từ miền đất thiêng về với đời thường

Thơ là một thể loại văn học xuất hiện sớm  gắn với nhu cầu tự biểu hiện mình, bộc lộ cảm xúc  trước  thiên  nhiên  tạo vật và cuộc sống con người.  Trong ngọn nguồn từ  thời nguyên  thủy,  những  câu  hò  của  người  kéo gỗ  trên  sông, câu  ca  của người  chài  lưới, lời phù chú của các thầy  phù  thủy đều  là mầm mống ban đầu của thi ca. Nhưng tự nó trong đời sống đã có sự phân loại, những lời ca dân giã bình dân vẫn  theo dòng chảy của nó và những lời cầu nguyện mang tính chất linh thiêng trong địa hạt tâm linh trở thành và được xem như những giá trị tinh thần cao đẹp của  con  người.

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

Một vài suy nghĩ về khái niệm hàng giả trong bối cảnh cuộc chiến chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Trong bài viết tác giả đề cập tới sự phát triển của khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam, phân tích về khái niệm hàng giả theo pháp luật hiện hành, chỉ ra sự khác biệt và mối tương quan giữa một số khái niệm hàng giả như: Hàng giả về nội dung và hàng giả về hình thức; Hàng giả thông thường và hàng giả gây hại cho sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng. Tác giả cũng chú trọng đến việc phân tích mối tương quan giữa hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những bất cập trong pháp luật hiện hành về xác định căn cứ áp dụng pháp luật nhằm xử lý các hành vi làm hàng giả khác nhau và chỉ ra sự cần thiết phải hoàn thiện khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam.

Ba viên ngọc quý

Trong thế giới vật lý, ngọc quý là vật do thiên nhiên tạo hóa, hiếm có, và vì thế có giá trị ở mặt đồng tiền, thẩm mỹ và quý hiếm. Song, những việc thuộc thế giới vật lý dù có giá trị đến đâu cũng có giới hạn của chúng ở trong vòng tương đối. 
Hơn thế nữa, ngọc quý cũng chẳng khác gì là đất đá vô tri, chúng không hề tự cho chúng có giá trị gì và tác hại gì cho nhân loại, chẳng qua là tâm hư vọng của con người dựng lập cho những viên ngọc ấy có giá trị khác nhau theo một hệ thống nào đó mà thôi. Một khi tâm con người đã kiến lập những khái niệm về giá trị của những viên ngọc ấy thì những tâm tham, sân, si lần lượt trỗi dậy.

Cũng chính vì thế mà có sự tranh dành cướp đoạt lẫn nhau, mang đến những chết chóc, hận thù, khổ đau cho mình và người. Vậy thử hỏi những viên ngọc quý ấy có giá trị đích thật chung cùng gì cho mình, người, và toàn thể nhân loại? Chưa kể là người và vật đều bị chi phối bởi vô thường, khổ, vô ngã. Không có gì sinh mà không diệt, ngọc quý dù có giá trị đến đâu cũng có ngày hủy diệt, người có sống lâu đến đâu cũng có ngày chết mất, một khi bị hủy diệt và chết đi thì chẳng có gì đem theo được. Vậy khổ tâm lãng phí cả một đời tìm kiếm đua tranh những viên ngọc quý vô tri vô giác bên ngoài ấy để làm gì? Và chẳng phải đó là sự minh chứng rõ ràng về nguồn gốc của sự khổ đau là ở tại lòng mình tạo ra tất cả đó hay sao?


Khi khởi tâm dựng lập một điều gì thì con người chúng ta đã bị giam cầm trong tâm tham, sân, và si của chính mình, cũng như chôn vùi viên ngọc quý bên trong lòng đất tâm sâu thẳm của chính mình rồi vậy. Một khi đã chạy theo ngọc giả tức thì đánh mất ngọc thật. Mỗi người ai cũng có viên ngọc quý nơi mình. Viên ngọc quý này được Kinh Phật ẩn dụ cho Tự Tính Giác hay Tâm Thanh Tịnh Bản Nhiên nơi mỗi người, xưa nay nó không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Viên ngọc này được Kinh Pháp Hoa đề cập đến trong câu chuyện người ăn mày có viên ngọc quý trong túi áo mà không biết, phải chịu kiếp lang thang nghèo nàng nay đây may đó. Ngọc quý ấy ở đâu? Tại sao ta không thấy nó? Thế nào là giá trị của viên ngọc quý ấy? Tại sao nhận được viên ngọc quý ấy thì hết kiếp cùng khổ? Chính mình cần phải nghiền ngẫm khám phá mới được.


Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Vai trò của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo

Nghèo đói là một phạm trù lịch sử xuất hiện và tồn tại song song với loài người từ khi xã hội loài người đạt đến trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất tạo ra những sản phẩm thặng dư, sự nảy sinh sự bất bình đẳng trong chiếm hữu tư liệu sản xuất dẫn đến sự phân hóa thành những tầng lớp khác nhau. Trong lịch sử loài người, nghèo đói là vấn đề lớn mà chưa nước nào giải quyết triệt để. Xóa đói giảm nghèo là cuộc đấu tranh gay go phức tạp để thực hiện thành công cần thực hiện các chính sách tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội. Xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu chính đáng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/12497

Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2017

Suy ngẫm về chế độ khoa cử Trung Hoa nhân đọc Nho lâm Ngoại sử

Tự sự Nho lâm Ngoại sử dồn người đọc đi đến chỗ nhận ra thực chất mối quan hệ giữa thế quyền và đạo thống - một mối quan hệ biểu hiện tập trung ra trên con người giai tầng sĩ nhân, hạng mà khoa cử đã biến thành động-vật-đi-thi. Chưa có tác phẩm nào trong kho tàng văn học Trung Hoa lại diễn tả chân xác đến thế cuộc gian díu giằng co giữa Đạo và Thế cùng bi kịch thân phận sĩ nhân - kẻ sa chân giữa bãi lầy thi cử, mắc kẹt giữa giằng co đó. Phân tích nội hàm văn hóa cuốn tiểu thuyết này chính là một sự chuẩn bị cho việc nhìn nhận trở lại mối quan hệ văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam - một nước theo dùng Tống Nho và vận dụng khoa cử Trung Hoa trong hàng trăm năm.

PHỤ NỮ HÀ NỘI: TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN TRONG NHỮNG NĂM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX



Mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long. Từ đó Thăng Long trở thành trung tâm kinh tế- chính trị và văn hóa của cả nước. Lịch sử phát triển của Thăng Long - Hà Nội cho thấy những nét đặc trưng của kinh đô - đô thị Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung.
Đến đầu thế kỷ XX, dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa của Pháp, Hà Nội từ một thành thị phong kiến trung đại ngày càng mang dáng dấp một đô thị hiện đại, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, là “thủ đô của Bắc Kỳ” và đặc biệt, với việc đặt Phủ Toàn quyền ở Hà Nội, Hà Nội đã thực sự trở thành “Thủ đô của Liên bang Đông Dương”.
Vì vậy, người Hà Nội, phụ nữ Hà Nội không chỉ mang đầy đủ những đặc tính cơ bản của người Việt Nam nói chung và của phụ nữ Việt Nam nói riêng mà còn thể hiện rõ những dấu ấn lịch sử, văn hóa do vị thế trung tâm văn hóa, chính trị của Thăng Long - Hà Nội mang lại, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp mọi biến động của thời cuộc. Bài viết này của chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu quá trình đi từ truyền thống đến cách tân của phụ nữ Hà Nội trong những năm nửa đầu thế kỷ XX.


THỊ TRƯỜNG HÔN NHÂN QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HOÁ, CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài Thực trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc (Nghiên cứu trường hợp xã Đại Hợp, huyện Kiến Thuỵ - Tp. Hải Phòng). Bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, nghiên cứu này kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Với mẫu khảo sát 150 cha/mẹ trong những gia đình ở xã Đại Hợp, huyện Kiến Thuỵ, Tp. Hải Phòng có con lấy chồng Hàn Quốc, cùng với 15 phỏng vấn sâu (bao gồm cha/mẹ cô dâu, cán bộ lãnh đạo thôn, xã; người dân; cô dâu đã kết hôn đang chờ xuất cảnh, cô dâu từ Hàn Quốc về thăm gia đình). Nghiên cứu này được thực hiện tháng 8 năm 2009, sau đó chúng tôi trở lại phỏng vấn sâu thêm một vài trường hợp phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, cùng với gia đình có con lấy chồng nước ngoài.


DI SẢN THỜ CÚNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Thờ cúng là một nếp sống văn hóa lâu đời của nhân dân ta, thể hiện lòng tôn kính đối với người đã chết và nhằm giáo dục cho thế hệ sau nhớ công ơn thế hệ trước. Vì vậy, Nhà nước luôn tôn trọng và bảo vệ các truyền thống tốt đẹp đó bằng cách cho phép cá nhân dành một phần tài sản của mình để dùng vào việc thờ cúng. Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh của xã hội nên đất “hương hỏa” ngày càng có giá trị, cộng với sự tác động của lợi ích kinh tế đã khiến không ít người có trách nhiệm thờ cúng không những không làm tròn nghĩa vụ của mình mà còn có hành vi chiếm đoạt. Mặc khác, do quy định của pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng chưa phù hợp với thực tiễn, dẫn đến tranh chấp về thừa kế xảy ra ngày càng nhiều. 

Đề tài làm sáng tỏ những quy đ nh của pháp luật hiện hành nhằm tìm ra những vướng mắc còn tồn tại trên thực tế và đề xuất một số kiến ngh để sửa đổi luật nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng.

Đạo hiếu trong giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay


Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận về đạo hiếu từ đó phân tích thực trạng giáo dục đạo hiếu ở nước ta hiện nay và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay. 


Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2017

Quan điểm của C. Mác, F. Ănghen, V.I. Lênin về vấn đề xóa bỏ tư hữu

Vấn đề sở hữu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Thực tiễn trên 20 năm đổi mới đất nước cho thấy, nếu giải quyết tốt vấn đề sở hữu thì sẽ tạo động lực phát triển nền kinh tế một cách mạnh mẽ , nâng cao đời sống nhân dân. Trong các tác phẩm của mình C. Mac, F. Awnghen, V.I. Lenin đã bàn rất nhiều đến vấn đề sở hữu, coi sở hữu là một quan hệ kinh tế - xã hội. Đồng thời các ông cũng cho rằng việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là một quá trình tất yếu của lịch sử. Các ông cũng không quên nhấn mạnh những điều kiện và khả năng để thực hiện quá trình đó. Trở về với quan điểm của các nhà kinh điển về sở hữu để hiểu đúng và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam là vấn đề cấp thiết hiện nay.


http://repository.vnu.edu.vn/handle/11126/4964

Về việc chuẩn hóa ngữ pháp trong các văn bản pháp luật thời kỳ đổi mới


http://repository.vnu.edu.vn/handle/11126/5585

Kết quả tìm kiếm Sự thâm nhập của Nho giáo vào làng xã Việt Nam qua tư liệu hương ước

Hương ước là một khái niệm chung chỉ những quy ước của các cộng đồng làng xã. Những quy ước này được tuân thủ từ lâu đời và được văn bản hoá từ thế kỉ XV trở đi, khi xã trở thành đơn vị hànhc hinh cơ sở và làng xã được tổ chức ngày càng chặt chẽ. Nho giáo thâm nhập vào làng xã trước hết qua các điều lệ trong khoán ước của làng liên quan đến răn bảo, thưởng phạt hành vi đạo đức. Tác giả chỉ ra rằng, mối liên hệ chặt chẽ của tầng lớp Nho sĩ với làng xã là cầu nối giúp Nho giáo thâm nhập vào làng xã.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19304

Tam giáo đồng nguyên thời Lý, Trần: Một giá trị đặc sắc của nền chính trị Việt Nam truyền thống

Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo là ba tôn giáo có vị trí quan trọng, chi phối mạnh mẽ đến hệ tư tưởng văn hóa Việt Nam suốt một ngàn năm quân chủ chuyên chế. Và suốt dặm dài cả ngàn năm ấy mảnh đất Thăng Long - Hà Nội chính là nơi hình thành, chứng kiến các thăng trầm, biến đổi mạnh mẽ cũng như sự hòa kết giữa các tôn giáo đó mà ta vẫn gọi là “Tam giáo đồng nguyên”. Sự kết hợp nhuần nhuyễn, dung hợp giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đã tạo nên một nền văn minh Đại Việt rực rỡ và tinh hoa. Đó là sự kết hợp của gam màu văn hóa dân gian với văn hóa bác học cung đình, sự hòa hợp giữa chính trị và đời sông tôn giáo tâm linh của mảnh đất Thượng đô muôn đời.

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19601

Thứ Năm, 1 tháng 6, 2017

Tặng và nhận quà: Dễ mà khó


http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/3034

Sử dụng mô hình cân đối liên ngành trong việc lựa chọn ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam

Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo, do đó không thể đầu tư tràn lan cho tất cả các ngành, lĩnh vực; vấn đề đặt ra là cần xác định đúng các ngành, lĩnh vực trọng điểm, cần được ưu tiên phát triển. Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam xác định việc lựa chọn ngành trọng điểm là cần thiết, từ đó đã có những văn bản xác định ngành trọng điểm.

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích những yếu tố ảnh hưởng tác động đến văn hóa đọc và nghiên cứu thực trạng văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội, tác giả luận văn muốn đưa ra các giải pháp nhằm phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội.



Nếu văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội được cải thiện và phát triển thì sẽ nâng cao được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên, đồng thời Nhà trường, các khoa và thư viện sẽ phát huy được hiệu quả tổ chức và hoạt động của mình.