Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

Đào tạo tâm lý học lâm sàng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam: Mô hình đào tạo nào?

Tâm lý học lâm sàng mặc dầu được thừa nhận trên toàn thế giới là một khoa học góp phần vào chăm sóc sức khỏe nói chung, nhưng phần nhiều chương trình đào tạo tâm lý học lâm sàng lại thường chỉ tập trung vào các vấn đề sức khỏe tâm thần. Những mô hình đào tạo tâm lý học lâm sàng được đề cập trong bài viết này xoay quanh hai khía cạnh căn bản: nghiên cứu và thực hành. Vậy một nhà tâm lý lâm sàng nên được đào tạo theo hướng thực hành hay nghiên cứu? Hay cần có sự cân bằng của cả hai yếu tố? Đây cũng chính là câu hỏi đang được đặt ra trong đào tạo tâm lý học lâm sàng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam.

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

Luật tục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở Việt Nam (Qua Luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Tây Nguyên)

Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã được các tộc người quan tâm chú ý từ rất lâu. Để bảo vệ, khai thác và quản lý vấn đề này, họ đã tạo ra những thế ứng xử hài hoà giữa con người và thế giới tự nhiên. Đó là những nguyên tắc, cách ứng xử được được áp dụng trong cuộc sống của các dân tộc thiểu số để nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên và bảo tồn sự hài hoà giữa con người và thế giới tự nhiên. Các tộc người đều có những biện pháp bảo vệ môi trường riêng của mình, mà một trong những biện pháp được coi là có hiệu quả nhất chính là các điều khoản của Luật tục dân gian đã tồn tại hàng ngàn đời nay trong xã hội của họ.

Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

TỪ LÝ THUYẾT KIẾN TẠO ĐẾN LÝ THUYẾT KIẾN TẠO XÃ HỘI

Lý thuyết kiến tạo và lý thuyết kiến tạo xã hội là hai lý thuyết quan trọng có quan hệ khăng khít với nhau cho phép giải thích quá trình phát triển nhận thức của con người. Lý thuyết kiến tạo khẳng định rằng kiến thức được kiến tạo thông qua hoạt động và tư duy về hoạt động. Cũng giống như lý thuyết kiến tạo, lý thuyết kiến tạo xã hội cũng coi kiến thức là sản phẩm của một quá trình kiến tạo, nhưng sự kiến tạo này mang tính xã hội mà không mang tính cá nhân. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi cố gắng phân tích và làm rõ thêm các luận điểm quan trọng của hai lý thuyết này, đặc biệt việc vận dụng chúng vào dạy và học ngôn ngữ.

Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua Hội bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam

Nghiên cứu một cách cụ thể những vấn đề lý luận cơ bản về người tiêu dùng, các quyền cơ bản của người tiêu dùng, vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. - Phân tích, đánh giá thực tiễn vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua một số hoạt động của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam. - Qua quá trình nghiên cứu một số hoạt động của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong thực tiễn bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua hoạt động của Hội bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/59549

Biến đổi của mô hình tổ chức nhà nước Việt Nam ( thế kỷ X-XIX) : Luận án TS. Lịch sử: 62 22 54 01

Luận án lần đầu tiên nghiên cứu vấn đề thiết chế chính trị trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam thời trung đại. Qua đó phân tích và lý giải có căn cứ mối quan hệ và tác động qua lại giữa bối cảnh lịch sử, nền tảng kinh tế - xã hội với mô hình tổ chức nhà nước trung ương tập quyền.
- Nghiên cứu sự vận động và biến đổi của mô hình tổ chức nhà nước, chỉ rõ những thành quả và hạn chế, những nguyên nhân thịnh suy, thành bại đã đưa tới một cái nhìn tổng quát, những phát hiện và nhận thức khoa học mới và từ đó, rút ra được những bài học lịch sử mang ý nghĩa thực tiễn.
- Trao đổi, thảo luận và góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề khoa học được đặt ra lâu nay: Sự tồn tại của thiết chế trung ương tập quyền dưới thời Lý, chủ trương “thân dân” thời Lý - Trần, xu hướng “quan liêu” thời Lê Sơ, tính chất luật pháp Việt Nam trước thế kỷ XV, đặc trưng của mô hình nhà nước tập quyền ở Việt Nam...
- Luận án đã chỉ rõ sự biến đổi của mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam thế kỷ X-XIX là kết quả của quá trình phát triển tự thân, là sản phẩm và nhằm đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn lịch sử, đồng thời chịu ảnh hưởng và tác động của những yếu tố bên ngoài. Trong số các yếu tố bên ngoài, ảnh hưởng từ mô hình chính trị Trung Hoa là thường xuyên và mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, có một thực tế là mô hình nào càng giống bên ngoài, ít sức sống nội sinh, mô hình ấy càng kém bền vững.
- Trên cơ sở nghiên cứu mô hình tổ chức nhà nước tập quyền ở Việt Nam thời trung đại Luận án rút ra nhiều giá trị và bài học kinh nghiệm cho hiện tại. Đó là những bài học về tăng cường cơ chế giám sát và điều tiết quyền lực, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và xây dựng ý thức công dân, về bệ đỡ tư tưởng…

Thứ Tư, 18 tháng 10, 2017

Basalt

Basalt là đá magma phun trào sẫm màu, hạt mịn, có hàm lượng oxit silic (SiO2) dao động trong khoảng 44 đến 52,5 % trong tổng khối lượng. Do lượng oxit silic thấp nên độ dẻo của basalt cũng thấp, các dòng dung nham basalt dễ dàng và nhanh chóng chảy tràn tạo thành các dòng chảy, đôi khi dài đến hàng chục kilomet. Nhiệt độ phun trào của basalt trong khoảng 1100 đến 1250°C. Các khoáng vật (gọi là ban tinh để phân biệt với phần nền là thủy tinh núi lửa hoặc vi tinh thể) chiếm ít hơn 10% tổng thể tích; chúng thường là plagioclas, pyroxen và/hoặc ít olivin. Basalt có thành phần hóa học tương tự với đá xâm nhập gabro nhưng gabro khác với basalt là có cấu trúc hạt thô do được kết tinh toàn phần. Basalt không chỉ rất phổ biến và là hợp phần chủ yếu của bề mặt và vỏ Trái Đất, mà chúng còn là thành phần chủ yếu của thềm và vỏ của các đại dương, ngoài ra basalt cũng là thành phần chủ yếu của Mặt Trăng.

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

Sở giao dịch hàng hóa tại Việt Nam: Trường hợp giao dịch kỳ hạn cà phê

Giao dịch kỳ hạn đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2000. Đối với mặt hàng cà phê, giao dịch kỳ hạn qua các ngân hàng thương mại được biết đến từ năm 2004 và chính thức giao dịch qua Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (VNX) từ cuối năm 2010 và Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) năm 2011. Đến nay, kết quả giao dịch kỳ hạn cà phê tại Việt Nam vẫn rất khiêm tốn. Thông qua phân tích các số liệu thực tế giao dịch tại Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra 4 nguyên nhân chính của thực trạng này, bao gồm: (i) Tồn tại một số bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về giao dịch kỳhạn; (ii) Việc giao dịch trên Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (VNX) và BCEC không mang lại lợi ích cho người tham gia hoặc cơ hội đầu tư cho giới đầu tư; (iii) Các định chế tài chính chưa thể hiện vai trò tích cực tham gia thị trường và xây dựng hệ thống thanh toán bù trừ đáng tin cậy trên BCEC và VNX; (iv) Cơsởhạtầng của Việt Nam chưa đủ tốt. Ngoài ra, kết hợp các nghiên cứu tổng quan về giao dịch kỳ hạn tại các nước thành công và thất bại trong giao dịch kỳ hạn cà phê nói riêng và các mặt hàng nông sản nói chung, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các giao dịch kỳ hạn đối với cà phê nói riêng và các mặt hàng nông sản nói chung tại Việt Nam.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/59566