Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

Một vài suy nghĩ về khái niệm hàng giả trong bối cảnh cuộc chiến chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Trong bài viết tác giả đề cập tới sự phát triển của khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam, phân tích về khái niệm hàng giả theo pháp luật hiện hành, chỉ ra sự khác biệt và mối tương quan giữa một số khái niệm hàng giả như: Hàng giả về nội dung và hàng giả về hình thức; Hàng giả thông thường và hàng giả gây hại cho sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng. Tác giả cũng chú trọng đến việc phân tích mối tương quan giữa hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những bất cập trong pháp luật hiện hành về xác định căn cứ áp dụng pháp luật nhằm xử lý các hành vi làm hàng giả khác nhau và chỉ ra sự cần thiết phải hoàn thiện khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam.

Ba viên ngọc quý

Trong thế giới vật lý, ngọc quý là vật do thiên nhiên tạo hóa, hiếm có, và vì thế có giá trị ở mặt đồng tiền, thẩm mỹ và quý hiếm. Song, những việc thuộc thế giới vật lý dù có giá trị đến đâu cũng có giới hạn của chúng ở trong vòng tương đối. 
Hơn thế nữa, ngọc quý cũng chẳng khác gì là đất đá vô tri, chúng không hề tự cho chúng có giá trị gì và tác hại gì cho nhân loại, chẳng qua là tâm hư vọng của con người dựng lập cho những viên ngọc ấy có giá trị khác nhau theo một hệ thống nào đó mà thôi. Một khi tâm con người đã kiến lập những khái niệm về giá trị của những viên ngọc ấy thì những tâm tham, sân, si lần lượt trỗi dậy.

Cũng chính vì thế mà có sự tranh dành cướp đoạt lẫn nhau, mang đến những chết chóc, hận thù, khổ đau cho mình và người. Vậy thử hỏi những viên ngọc quý ấy có giá trị đích thật chung cùng gì cho mình, người, và toàn thể nhân loại? Chưa kể là người và vật đều bị chi phối bởi vô thường, khổ, vô ngã. Không có gì sinh mà không diệt, ngọc quý dù có giá trị đến đâu cũng có ngày hủy diệt, người có sống lâu đến đâu cũng có ngày chết mất, một khi bị hủy diệt và chết đi thì chẳng có gì đem theo được. Vậy khổ tâm lãng phí cả một đời tìm kiếm đua tranh những viên ngọc quý vô tri vô giác bên ngoài ấy để làm gì? Và chẳng phải đó là sự minh chứng rõ ràng về nguồn gốc của sự khổ đau là ở tại lòng mình tạo ra tất cả đó hay sao?


Khi khởi tâm dựng lập một điều gì thì con người chúng ta đã bị giam cầm trong tâm tham, sân, và si của chính mình, cũng như chôn vùi viên ngọc quý bên trong lòng đất tâm sâu thẳm của chính mình rồi vậy. Một khi đã chạy theo ngọc giả tức thì đánh mất ngọc thật. Mỗi người ai cũng có viên ngọc quý nơi mình. Viên ngọc quý này được Kinh Phật ẩn dụ cho Tự Tính Giác hay Tâm Thanh Tịnh Bản Nhiên nơi mỗi người, xưa nay nó không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Viên ngọc này được Kinh Pháp Hoa đề cập đến trong câu chuyện người ăn mày có viên ngọc quý trong túi áo mà không biết, phải chịu kiếp lang thang nghèo nàng nay đây may đó. Ngọc quý ấy ở đâu? Tại sao ta không thấy nó? Thế nào là giá trị của viên ngọc quý ấy? Tại sao nhận được viên ngọc quý ấy thì hết kiếp cùng khổ? Chính mình cần phải nghiền ngẫm khám phá mới được.


Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Vai trò của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo

Nghèo đói là một phạm trù lịch sử xuất hiện và tồn tại song song với loài người từ khi xã hội loài người đạt đến trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất tạo ra những sản phẩm thặng dư, sự nảy sinh sự bất bình đẳng trong chiếm hữu tư liệu sản xuất dẫn đến sự phân hóa thành những tầng lớp khác nhau. Trong lịch sử loài người, nghèo đói là vấn đề lớn mà chưa nước nào giải quyết triệt để. Xóa đói giảm nghèo là cuộc đấu tranh gay go phức tạp để thực hiện thành công cần thực hiện các chính sách tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội. Xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu chính đáng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/12497

Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2017

Suy ngẫm về chế độ khoa cử Trung Hoa nhân đọc Nho lâm Ngoại sử

Tự sự Nho lâm Ngoại sử dồn người đọc đi đến chỗ nhận ra thực chất mối quan hệ giữa thế quyền và đạo thống - một mối quan hệ biểu hiện tập trung ra trên con người giai tầng sĩ nhân, hạng mà khoa cử đã biến thành động-vật-đi-thi. Chưa có tác phẩm nào trong kho tàng văn học Trung Hoa lại diễn tả chân xác đến thế cuộc gian díu giằng co giữa Đạo và Thế cùng bi kịch thân phận sĩ nhân - kẻ sa chân giữa bãi lầy thi cử, mắc kẹt giữa giằng co đó. Phân tích nội hàm văn hóa cuốn tiểu thuyết này chính là một sự chuẩn bị cho việc nhìn nhận trở lại mối quan hệ văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam - một nước theo dùng Tống Nho và vận dụng khoa cử Trung Hoa trong hàng trăm năm.

PHỤ NỮ HÀ NỘI: TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN TRONG NHỮNG NĂM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX



Mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long. Từ đó Thăng Long trở thành trung tâm kinh tế- chính trị và văn hóa của cả nước. Lịch sử phát triển của Thăng Long - Hà Nội cho thấy những nét đặc trưng của kinh đô - đô thị Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung.
Đến đầu thế kỷ XX, dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa của Pháp, Hà Nội từ một thành thị phong kiến trung đại ngày càng mang dáng dấp một đô thị hiện đại, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, là “thủ đô của Bắc Kỳ” và đặc biệt, với việc đặt Phủ Toàn quyền ở Hà Nội, Hà Nội đã thực sự trở thành “Thủ đô của Liên bang Đông Dương”.
Vì vậy, người Hà Nội, phụ nữ Hà Nội không chỉ mang đầy đủ những đặc tính cơ bản của người Việt Nam nói chung và của phụ nữ Việt Nam nói riêng mà còn thể hiện rõ những dấu ấn lịch sử, văn hóa do vị thế trung tâm văn hóa, chính trị của Thăng Long - Hà Nội mang lại, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp mọi biến động của thời cuộc. Bài viết này của chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu quá trình đi từ truyền thống đến cách tân của phụ nữ Hà Nội trong những năm nửa đầu thế kỷ XX.


THỊ TRƯỜNG HÔN NHÂN QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HOÁ, CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài Thực trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc (Nghiên cứu trường hợp xã Đại Hợp, huyện Kiến Thuỵ - Tp. Hải Phòng). Bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, nghiên cứu này kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Với mẫu khảo sát 150 cha/mẹ trong những gia đình ở xã Đại Hợp, huyện Kiến Thuỵ, Tp. Hải Phòng có con lấy chồng Hàn Quốc, cùng với 15 phỏng vấn sâu (bao gồm cha/mẹ cô dâu, cán bộ lãnh đạo thôn, xã; người dân; cô dâu đã kết hôn đang chờ xuất cảnh, cô dâu từ Hàn Quốc về thăm gia đình). Nghiên cứu này được thực hiện tháng 8 năm 2009, sau đó chúng tôi trở lại phỏng vấn sâu thêm một vài trường hợp phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, cùng với gia đình có con lấy chồng nước ngoài.


DI SẢN THỜ CÚNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Thờ cúng là một nếp sống văn hóa lâu đời của nhân dân ta, thể hiện lòng tôn kính đối với người đã chết và nhằm giáo dục cho thế hệ sau nhớ công ơn thế hệ trước. Vì vậy, Nhà nước luôn tôn trọng và bảo vệ các truyền thống tốt đẹp đó bằng cách cho phép cá nhân dành một phần tài sản của mình để dùng vào việc thờ cúng. Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh của xã hội nên đất “hương hỏa” ngày càng có giá trị, cộng với sự tác động của lợi ích kinh tế đã khiến không ít người có trách nhiệm thờ cúng không những không làm tròn nghĩa vụ của mình mà còn có hành vi chiếm đoạt. Mặc khác, do quy định của pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng chưa phù hợp với thực tiễn, dẫn đến tranh chấp về thừa kế xảy ra ngày càng nhiều. 

Đề tài làm sáng tỏ những quy đ nh của pháp luật hiện hành nhằm tìm ra những vướng mắc còn tồn tại trên thực tế và đề xuất một số kiến ngh để sửa đổi luật nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng.