Hiện nay trong vùng Đông Á có một mâu thuẫn cơ bản mang tính địa chính trị. Các thế hệ “Rồng” châu Á có sức mạnh cộng dồn về mặt kinh tế mạnh hơn Hoa Kỳ, nhưng về mặt chính trị thì họ vẫn có vai trò thứ cấp. Tức là về mặt kinh tế họ là các quốc gia khổng lồ, nhưng về mặt chính trị và an ninh họ không có tiếng nói thích hợp. Đồng thời, Hoa Kỳ hiện nay là quốc gia số một về tổng nợ. Để duy trì vai trò của mình trên thế giới Washington rất khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước khác, họ xây dựng vòng cung bất ổn Đông Á để chi phối các đối thủ cạnh tranh dựa vào vai trò chủ chốt về mặt quản lý xung đột ở nước khác vì quyền lợi của mình. Hiệp mới của trò chơi địa chính trị trong vùng Đông Á đang được bắt đầu. Trò chơi địa chính trị giữa các cường quốc đã dẫn đến thay đổi to lớn. Sự lớn mạnh của Trung Quốc và việc mở rộng vùng ảnh hưởng gây đe dọa quyền lợi của các cường quốc. Washington cố gắng kiềm chế Bắc Kinh. Vì đây là hai cường quốc hạt nhân, cuộc đối đầu trực tiếp giữa hai nước này là không thể xảy ra được, do đó Washington chọn đường lối chống Bắc Kinh bằng bàn tay của nước khác trong khu vực. Chính sách phản tác dụng của Trung Quốc ở Biển Đông đang buộc các nước Đông Nam Á tìm kiếm một đối trọng ở bên ngoài khu vực. Hoa Kỳ đứng đầu làm đại diện cho đối trọng ấy. Họ cố gắng hồi sinh một liên minh là khối SEATO, mà đã chấm dứt sự tồn tại vào năm 1976. Nếu như thiếu Việt Nam, thì khối này chẳng có nghĩa lý gì, còn bây giờ ý tưởng đó lại xuất hiện. Việt Nam với tư cách là quốc gia Đông Nam Á mạnh nhất về quân sự tất nhiên cần phải đóng vai trò đặc biệt trong dự án này. Cấu hình khu vực như thế đặt nền an ninh Việt Nam trước những thử thách lớn.
Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018
Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018
Hội chứng chuyển hóa và yếu tố nguy cơ ở người trung niên bị tiền đái tháo đường
Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh tim mạch và bệnh đái tháo đường týp 2. Nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ mắc HCCH ở người bị tiền đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ được tiến hành trên 368 người bị tiền đái tháo đường từ 40-64 tuổi tại tỉnh Hà Nam. Kết quả cho thấy tỉ lệ mắc HCCH trên người bị tiền đái tháo đường là 46,7% (41,5% ở nam và 49, 8% ở nữ). Trong số người mắc HCCH, tỉ lệ mắc với 3 thành tố là cao nhất (74,9%), tiếp đến với 4 thành tố (21,6%) và với 5 thành tố (3,5%). Sau khi hiệu chỉnh theo các biến trong phân tích đa biến thì nguy cơ mắc HCCH tăng ở giới nữ so với nam giới (OR=1,73; P=0,041), vùng thành thị so với vùng nông thôn (OR=2,05; P=0,0048), nhóm tuổi 50-59 so với nhóm tuổi 45-49 (OR=2,18; P=0,003), thừa cân-béo phì so với bình thường (OR=3,14; P<0,0001) và ngủ tối >7giờ so với ngủ tối ≤7 giờ (OR=1,96; P=0,022).
Thứ Ba, 16 tháng 1, 2018
Dẫn liệu về thành phần loài mối (Insecta: Isoptera) gây hại một số công trình di tích ở miền Bắc Việt Nam và hiệu quả phòng trừ
Điều tra thành phần loài mối gây hại một số công trình di tích được tiến hành tại 101 di tích thuộc 14 tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam. Bảy loài mối đã được phát hiện, trong đó có 4 loài được xác định là loài gây hại chủ yếu cho di tích bao gồm Coptotermes gestroi, Cryptotermes domesticus, Coptotermes ceylonicus và Odontotermes hainanensis. Kết quả chung cho thấy, hiệu quả xử lý mối đạt 98,6% với tất cả các giống mối gây hại trong di tích, tuy nhiên trung bình chỉ có 72,59% vị trí hết mối sau lần xử lý thứ nhất và 27,41% vị trí đạt hiệu quả xử lý sau lần xử lý thứ 2. Kết quả kiểm tra định kỳ hàng năm cho thấy có 97% các công trình di tích đã được xử mối không xuất hiện mối trở lại.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/60779
Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018
Định kiến đối với người đồng tính
Luận án không những góp phần hệ thống hoá, cập nhật một số vấn đề lý luận có liên quan tới định kiến mà còn thiết kế khung lý thuyết và bộ công cụ đo lường định kiến đối với người đồng tính ở sinh viên. Về mặt thực tiễn, qua điều tra khảo sát, luận án phát hiện sinh viên thể hiện định kiến đối với người đồng tính nam ở mức độ cao nhưng lại thể hiện định kiến ở mức độ thấp đối với người đồng tính nữ; mức độ định kiến ở từng thành tố khuôn mẫu, phản ứng cảm xúc và niềm tin tiêu cực là khác nhau trên từng tiểu thang đo lường định kiến đối với người đồng tính nữ, đồng tính nam. Tuy nhiên, phản ứng cảm xúc là thành tố được sinh viên thể hiện định kiến ở mức độ cao nhất so với hai thành tố còn lại. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng định kiến đối với người đồng tính chịu ảnh hưởng của tất cả các yếu tố được khảo sát; trong đó, truyền thông và các giá trị truyền thống về vai trò giới có ảnh hưởng mạnh nhất đến định kiến đối với người đồng tính ở sinh viên.
Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017
Xung quanh vân đê chân đoán trẻ tự kỷ hiện nay
Bài viết đề cập thực trạng chẩn đoán trẻ tự kỳ của các cơ sở trên địa bàn Hà Nội cũng như sự tăng lên một cách đáng quan ngại của số trẻ được chẩn đoán tự kỹ. Qua tiếp xúc trực tiếp hon 100 tré được chẩn đoán tự kỳ và trò chuyện với bố mẹ chúng, chúng tôi nhận thấy nhiều phụ huynh tò ra lo lảng và bức xúc về tinh trạng con họ được chẩn đoán tự kỳ rất nhanh và không chính xác. Nhằm đánh ệiá thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ca lâm sàng frên 20 trường hợp đã được chuần đoán là tự kỳ ờ các cơ sở khám bệnh ờ Hà Nội, tuồi dao động từ 2 đến 7, quê ở Hà Nội và một số tinh phía Bắc. Nhữnạ trẻ này được theo dõi ít nhất 6 tháng và tại 3 môi tnường khác, kết hợp với đối chiếu với tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ của DSM-IV và ICD 10: tự kỳ là kết hợp cùa cả 3 lĩnh vực suy yếu ngôn ngũ, quan hệ xã hội và hành vi định hình lặp lại. Kẻt quả là có 2 trẻ có nhữnẹ biểu hiện đặc trưng của tự kỷ lâu dài vả ổn định, 6 ưè có sự pha ừộn không rõ ràng giữa tự kỳ điển hình và chậm phát triền hoặc tăng động giảm chú ý. Còn 12 trẻ có tiến bộ vượt bậc về cả 3 hoặc một lĩnh vực cho nên không thể kết luận là tự kỷ.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/56449
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/56449
Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017
Thờ cúng tổ tiên với bản sắc hoà đồng của người Hà nội và những vùng phụ cận
Phác hoạ những nét đặc trưng về đời sống tinh thần của dân tộc Việt nói chung và tục thờ cúng nói riêng của những người Hà nội và vùng phụ cận. Đã tập trung, phân loại hệ thống hoá những đặc trưng giá trị tinh thần cơ bản từ thực tiễn cuộc sống, văn hoá xã (...)
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/34932
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/34932
Nghiên cứu chế tạo hệ dẫn thuốc Nano Paclitaxel phối hợp Curcumin và đánh giá tác động của chúng lên các tế bào ung thư
Ung thư là một thuật ngữ chung cho một nhóm lớn các bệnh có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của cơ thể. Các thuật ngữ khác được sử dụng là các khối u ác tính và u. Một đặc tính của ung thư là tạo nhanh các tế bào bất thường phát triển vượt ra ngoài phạm vi thông thường của chúng, và sau đó có thể xâm nhập vào các bộ phận liền kề của cơ thể và lây lan đến các cơ quan khác, quá trình thứ hai được gọi là di căn. Di căn là những nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/55076
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/55076
Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017
Lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ
Trình bày các lý thuyết về lịch sự trong ngôn ngữ được các nhà ngôn ngữ, ngữ dụng học quan tâm nghiên cứu và kiểm nghiệm bằng điều tra thực tế từ 1975 đến nay.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/56389
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/56389
Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017
Sự biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay
- Làm rõ một số vấn đề lí luận về văn hóa gia đình, sự biến đổi của văn hóa gia đình và các yếu tố tác động đến sự biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực trạng biến đổi và những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực của văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay.
Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2017
Quy định về tạm ứng, ứng trước ngân sách nhà nước - Bất cập và phương hướng hoàn thiện
Tạm ứng, ứng trước ngân sách nhà nước (NSNN) được qui định trong Luật NSNN được Quốc hội ban hành năm 2002 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật NSNN được Quốc hội sửa đổi, bổ sung năm 2015. Việc tạm ứng, ứng trước ngân sách là cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chi theo dự toán và các nhiệm vụ chi cấp bách để thực hiện dự án đầu tư công. Pháp luật hiện hành về cơ bản đã hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho quyết định tạm ứng, ứng trước ngân sách, tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật cần có sự kiểm tra, kiểm soát toàn diện của Cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước về tình trạng thu chi của các cấp ngân sách và đơn vị dự toán nói chung và cụ thể liên quan đến các khoản tạm ứng để tránh tình trạng vi phạm gây thất thoát ngân sách từ tạm ứng, ứng trước NSNN. Ngoài ra, pháp luật cần có qui định chặt chẽ điều kiện ứng trước, nguồn ứng trước và trách nhiệm của người liên quan đến khoản ứng trước.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/55582
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/55582
Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017
Hoạt động của tam pháp ty Triều Nguyễn(1802-1885)
Trong thời kỳ độc lập, tự chủ dưới thời trị vì của bốn vị vua là Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, triều Nguyễn đã dày công xây dựng một bộ máy hành chính khá hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Triều Nguyễn đã có nhiều biện pháp, trong đó, việc xây dựng, tạo cơ chế hoạt động và vận hành tổ chức hành pháp và tư pháp là một trong những yếu tố hàng đầu. Bài viết này dựng lại phần nào hoạt động của Ty Tam pháp của triều Nguyễn trong giai đoạn 1802-1885.
Thứ Ba, 14 tháng 11, 2017
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa lên các dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học của hồ Tây, thành phố Hà Nội : Luận văn ThS. Môi trường và phát triển bền vững (Chương trình đào tạo thí điểm)
Đề tài “Đánh giá ảnh hưởng môi trường của việc thu hồi đất tại quận Tây Hồ, Hà Nội” nhằm nghiên cứu những tác động đến môi trường do việc thu hồi đất, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách đất đai, đảm bảo an sinh xã hội, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017
Quyền công dân trong nhà nước thời hậu hiện đại
Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, công dân là chủ đề bao phủ hầu khắp các lĩnh vực chính trị, xã hội hay pháp luật. “Lịch sử tư tưởng chính trị pháp lý là lịch sử đấu tranh giữa các quan niệm tiến bộ với các quan niệm bảo thủ, lạc hậu trong việc xác định mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân” (2; 198)[1]. Dù có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng cơ bản nhất, mối quan hệ Nhà nước – công dân được phản ánh thông qua khái niệm “quyền công dân” (la citoyenneté – tiếng Pháp; citizenship – tiếng Anh). Quyền công dân là khái niệm gốc: từ đây sẽ nảy sinh các khái niệm nền tảng của nền chính trị như: dân chủ; nhà nước pháp quyền, công lý.v.v. Mỗi đổi thay của khái niệm quyền công dân, phản ánh những bước chuyển của xã hội ở từng thời kỳ lịch sử. Và ẩn chứa sau nội dung quyền công dân có thể nhìn thấy hướng vận động của một quốc gia hay xu hướng của thế giới. Bài viết sau đây lược dịch từ tác phẩm của học giả Jacques Chevallier (Giáo sư Đại học Pantheon – Assas, Paris 2) trong đó khái niệm quyền công dân được xem xét từ góc độ thời gian (từ nhà nước cổ xưa đến xã hội hậu hiện đại); và góc độ không gian (từ quốc gia đến quốc tế); từ lĩnh vực chính trị đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017
Mối quan hệ giữa môi trường và tăng trưởng kinh tế tại các nước châu Á - Thái Bình Dương
Bài viết cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa môi trường và tăng trưởng kinh tế tại 17 quốc gia thuộc châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn 2005-2011. Sử dụng các phương pháp kinh tế lượng, bao gồm Pool OLS, FEM, REM, FGLS và GMM, bài viết chỉ ra mối quan hệ ngược giữa chất lượng môi trường và tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, bài viết chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa sử dụng năng lượng và sự suy giảm của môi trường.
Thứ Tư, 8 tháng 11, 2017
Quy hoạch mạng 4G LTE
Sự phát triển của thị trường di động cùng với nhu cầu sử dụng của con người đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin di động. Sự ra đời của công nghệ LTE (Long Term Evolution) đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của con người. LTE đã được thử nghiệm và triển khai tại rất nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, 3G đang phát triển rất mạnh mẽ, nhưng việc đưa vào sử dụng công nghệ 4G LTE không còn xa nữa. Trên cơ sở triển khai thế hệ di động mới này, học viên đề xuất việc quy hoạch mạng 4G LTE tại Việt Nam. Việc quy hoạch này giúp cho việc tính toán trang thiết bị, cấu hình một các tổng thể, toàn diện, nhằm đảm bảo tránh sự lãng phí xảy ra khi đi vào triển khai 4G LTE tại Việt Nam.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/8324
Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017
Truyền thông thương hiệu của trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn làm rõ được cơ sở lý luận về truyền thông thương hiệu. Phân tích đánh giá được thực trạng công tác truyền thông thương hiệu của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN. Làm tài liệu tham khảo cho những cá nhân quan tâm đến đề tài Truyền thông thương hiệu của các trường Đại học, các đơn vị đào tạo và các doanh nghiệp đặc biệt là trong thời kỳ hiện nay khi vấn đề truyền thông thương hiệu của các trường Đại học tại Việt Nam chưa được quan tâm một cách đúng mực.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/59778
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/59778
Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017
Phát triển sản phẩm du lịch ẩm thực đường phố tại Hà Nội
Dựa trên
những nghiên cứu thực tế, luận văn đã đánh giá nhu cầu cũng như sự hài lòng của
du khách, khả năng cung cấp các dịch vụ ăn uống tại các quán ăn đường phố trên
địa bàn, từ đó đưa ra những đánh giá chung về thực trạng của các hoạt động du
lịch ẩm thực đường phố hiện nay tại Hà Nội, đặc biệt là tại các khu vực phố cổ.
Từ đó rút ra được những mặt thành công và hạn chế trong việc khai thác ẩm thực
đường phố hiện nay và lấy đó làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nhằm phát
triển văn hóa ẩm thực đường phố phục vụ kinh doanh du lịch tại thủ đô.
Luận văn đã khẳng định tầm quan trọng của việc khai thác các giá trị văn hóa
của ẩm thực đường phố trong hoạt động du lịch tại Hà Nội. Từ đó cho thấy tiềm
năng phát triển của loại hình sản phẩm du lịch ẩm thực đường phố trong việc
phục vụ du lịch thủ đô. Trên cơ sở đó đưa ra một số nhóm giải pháp và kiến nghị
cụ thể nhằm phát huy tối đa những giá trị văn hóa của ẩm thực đường phố, góp
phần đưa sản phẩm du lịch này trở thành một trong những sản phẩm du lịch chủ
đạo của Hà Nội.
Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017
Đào tạo tâm lý học lâm sàng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam: Mô hình đào tạo nào?
Tâm lý học lâm sàng mặc dầu được thừa nhận trên toàn thế giới là một khoa học góp phần vào chăm sóc sức khỏe nói chung, nhưng phần nhiều chương trình đào tạo tâm lý học lâm sàng lại thường chỉ tập trung vào các vấn đề sức khỏe tâm thần. Những mô hình đào tạo tâm lý học lâm sàng được đề cập trong bài viết này xoay quanh hai khía cạnh căn bản: nghiên cứu và thực hành. Vậy một nhà tâm lý lâm sàng nên được đào tạo theo hướng thực hành hay nghiên cứu? Hay cần có sự cân bằng của cả hai yếu tố? Đây cũng chính là câu hỏi đang được đặt ra trong đào tạo tâm lý học lâm sàng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam.
Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017
Luật tục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở Việt Nam (Qua Luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Tây Nguyên)
Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã được các tộc người quan tâm chú ý từ rất lâu. Để bảo vệ, khai thác và quản lý vấn đề này, họ đã tạo ra những thế ứng xử hài hoà giữa con người và thế giới tự nhiên. Đó là những nguyên tắc, cách ứng xử được được áp dụng trong cuộc sống của các dân tộc thiểu số để nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên và bảo tồn sự hài hoà giữa con người và thế giới tự nhiên. Các tộc người đều có những biện pháp bảo vệ môi trường riêng của mình, mà một trong những biện pháp được coi là có hiệu quả nhất chính là các điều khoản của Luật tục dân gian đã tồn tại hàng ngàn đời nay trong xã hội của họ.
Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017
TỪ LÝ THUYẾT KIẾN TẠO ĐẾN LÝ THUYẾT KIẾN TẠO XÃ HỘI
Lý thuyết kiến tạo và lý thuyết kiến tạo xã hội là hai lý thuyết quan trọng có quan hệ khăng khít với nhau cho phép giải thích quá trình phát triển nhận thức của con người. Lý thuyết kiến tạo khẳng định rằng kiến thức được kiến tạo thông qua hoạt động và tư duy về hoạt động. Cũng giống như lý thuyết kiến tạo, lý thuyết kiến tạo xã hội cũng coi kiến thức là sản phẩm của một quá trình kiến tạo, nhưng sự kiến tạo này mang tính xã hội mà không mang tính cá nhân. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi cố gắng phân tích và làm rõ thêm các luận điểm quan trọng của hai lý thuyết này, đặc biệt việc vận dụng chúng vào dạy và học ngôn ngữ.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





